1. Doping là ǵ

Doping được định nghĩa như là một việc dùng mưu mẹo, dùng một chất hoặc một phương pháp có khả năng gây nguy hiểm cho sức khoẻ của vận động viên và/hoặc có khả năng thúc đẩy thành tích của họ, hoặc là có một chất trong người của vận động viên, hoặc là phát hiện thấy việc sử dụng phương pháp ghi trong danh sách bổ sung vào mă số chống doping vận động của uỷ ban Olympic.

2. Tại sao lại cấm sử dụng doping

Về nguyên tắc Doping chống lại những qui ước của tinh thần các môn thi Olympic: chơi đẹp. Nhiều chất và phương pháp bị cấm có hại cho sức khoẻ vận động viên và có thể gây huỷ hoại ngắn hoặc kéo dài.

3. Đâu là ranh giới chúng ta đề ra giữa Doping và trị liệu thông thường

Nhiều thuốc thông thường như các thuốc giảm đau và các thuốc chữa hen có thể có chứa các chất bị cấm. Đó là lư do tại sao các vận động viên phải rất thận trọng với bất kỳ thuốc ǵ họ đang dùng.

Nếu một vận động viên muốn sử dụng một chất bị cấm với mục đích điều trị th́ anh/cô ấy phải được sự đồng ư bằng văn bản của uỷ ban tư vấn Y học của hội đồng y học của ủy ban Olimpic quốc tế (IOC). Việc đồng ư phải được thực hiện trước khi thi đấu.

4. Tất cả các vận động viên phải xét nghiệm thời gian diễn ra Olympic

Trong tất cả vận động viên tham gia các môn thi đấu Olympic, 3 người đạt vị trí đầu tiên và một vận động viên ngẫu nhiên phải xét nghiệm. ở Atlanta, 2000 xét nghiệm được tiến hành cho 11000 vận động viên.

5. Có sự gian lận trong xét nghiệm Doping không?

Đề pḥng việc gian lận các vận động viên có một người đi kèm, người này luôn phải có giới tính giống với vận động viên, và phải ở cùng với vận động viên trong toàn bộ quá tŕnh xét nghiệm. Do việc giám sát này và do thủ tục giải quyết được chọn lựa một cách rất cẩn thận của các mẫu xét nghiệm nên việc làm gian lận một xét nghiệm rất khó xảy ra.

6. H́nh phạt ǵ nếu vận động viên có xét nghiệm dương tính tại Olympic

H́nh phạt đề ra tối thiểu đối với các chất Doping chủ yếu hoặc các phương pháp bị cấm là tước bỏ quyền thi đấu của vận động viên ở tất cả các cuộc thi trong thời hạn 2 năm đối với vi phạm lần đầu.

Trong các trường hợp cụ thể, ngoại lệ có thể có điều khoản cho việc thay đổi hợp lư h́nh phạt 2 năm.

Bất kỳ thành tích huân huy chương nào mà vận động viên đạt được ở thời điểm hoặc sau thời điểm mẫu xét nghiệm dương tính đều bị huỷ bỏ. Việc tước quyền thi đấu sẽ bắt đầu từ khi phát hiện ra mẫu dương tính.

Ngoài ra, các tổ chức khác (như Liên đoàn quốc tế) có thể chọn để áp dụng các h́nh phạt phối hợp đối với vận động viên.

7. Những chất ǵ bị cấm?

Những chất mà bị một môn thể thao cấm khi nó xem như sẽ tạo ra những lợi thế không chính đáng cho vận động viên khi sử dụng chúng.

Các Steroid đồng hoá giúp tạo cơ và v́ vậy được sử dụng trong các môn thể thao đ̣i hỏi khoẻ và tốc độ, ví dụ đẩy tạchạy nước rút.

Các chất chẹn bêta làm giảm huyết áp và giúp cho việc duy tŕ cho đôi tay của vận động viên vững chắc và v́ vậy được dùng trong bắn cung hoặc bắn súng lục.

Các thuốc lợi tiểu thải nhiều nước ra khỏi cơ thể. Chúng được dùng trong thể thao khi các vận động viên thi đấu phân loại theo cân nặng như thi bơi chèo và đấm bốc việc dùng các thuốc lợi tiểu có thể gây mất nước nặng.

8. Doping máu là ǵ?

Doping máu liên quan đến việc dùng máu, hồng cầu và các sản phẩm liên quan tới máu để làm tăng khả năng vận chuyển oxy của máu và v́ vậy tăng cường thành tích của các vận động viên thể dục nhịp điệu. IOC cấm dùng Doping máu.

9. Caffeine có bị cấm không?

IOC đă cấm dùng Caffeine. Dùng 1 liều cụ thể caffeine có thể làm tăng mức chuyển hoá của vận động viên, thân nhiệt, huyết áp và đường huyết.

10. Doping đă tồn tại trong thể thao bao lâu?

Thật không may là việc sử dụng các chất nhân tạo đă luôn là một vấn đề trong lịch sử thể thao. Chứng cứ đầu tiên về Doping có thể được t́m thấy vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên ở các thế vận hội cổ. Có một chứng cứ là các vận động viên bằng ḷng với việc dùng các chất nâng cao thành tích, như nấm và dịch chiết cây cỏ.

Ngày nay, cuộc chiến chống lại Doping là một cuộc chiến mang tính liên tục mà chỉ có thể thắng lợi với sự hợp tác quốc tế.